Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Tháo gỡ khó khăn về tài thông tin chính cho các doanh nghiệp xây lắp

Các đơn vị xây lắp thi công Công trình Thủy điện Lai Châu.

San sớt công việc

Thị trường công việc của các DN xây lắp hiện đã thu hẹp khá nhiều. Thủy điện Lai Châu là dự án thủy điện quy mô lớn, trong khi đó các dự án nhiệt điện thường rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài; các dự án lọc hóa dầu vẫn giậm chân tại chỗ. Nên, các công trình trung tâm đều vấn hầu hết các đơn vị thành viên của các tổng công ty xây lắp vì gặp thuận lợi trong công tác tính sổ. Tuy nhiên, không phải không có những vướng mắc khó khăn trên những công trình trung tâm. Và để bảo đảm tiến độ, chất lượng thi công công trình, cũng cần ghi nhận những nỗ lực của các DN xây lắp.

Theo Ban Điều hành Dự án Thủy điện Lai Châu, Tổng thầu EPC (Tổng công ty Sông Đà) cùng các nhà thầu thành viên đang bám sát và đảm bảo tiến độ năm 2013 được duyệt cũng như tổng tiến độ thi công công trình. Đến tháng 8, các hạng mục đều đạt đề nghị tiến độ đề ra: Cửa nhận nước đạt cao trình 252.00 m, khối hạ lưu đạt cao trình 180.80 m, khoang tổ máy đạt cao trình 176.00 m, phòng công nghệ đạt cao trình 188.65 m, gian lắp ráp đạt cao trình 181.70 m và Đập RCC đạt cao trình 208.50 m. Hiện, số lượng cán bộ, công viên chức toàn công trường khoảng 4.500 người. Năng lực thi công bao gồm: bốn trạm bê-tông CVC, bốn trạm nghiền, 17 xe ô-tô chuyển trộn, chín cần trục tháp hoạt động thường ngày, cung cấp đủ cốt liệu và vữa bê-tông phục vụ đổ bê-tông. Tổng công ty Sông Đà đã huy động chín đơn vị thành viên tham gia. Do được bảo đảm nguồn vốn nên công tác nghiệm thu, thanh toán khối lượng xây lắp hoàn tất tương đối tiện lợi, chỉ có một số tính sổ khối lượng nảy sinh trên công trường gặp vướng mắc nhỏ. Bên cạnh đó, do khó khăn chung về kinh tế, một đôi đơn vị phải chậm lương hướng công nhân, nhưng vẫn bảo đảm được đời sống cho anh em, số lượng công nhân nghỉ việc ít. Đang bước vào mùa mưa, việc vận chuyển thiết bị, vật tư, nguyên liệu... Phục vụ xây dựng công trình gặp khó khăn; song song, việc tăng giá điện, xăng dầu ít nhiều ảnh hưởng đến hoài, tuy nhiên không ảnh hưởng lớn đến thi công xây lắp vì đã được điều chỉnh vào đơn giá tính theo thời điểm.

Na ná, tại một số công trình trung tâm nhiệt điện như Vũng Áng 1 và Mông Dương 1 và 2, các đơn vị thành viên của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) cũng đang tích cực thi công, bảo đảm tiến độ. Theo Giám đốc Công trường Ban dự án Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 Nguyễn Viết Xuân, người đã từng gắn bó tại Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Lilama đã huy động bảy đơn vị thành viên. Khó khăn chung tại hai công trình trọng điểm này là vấn đề về phóng thích mặt bằng, địa chất, thời tiết hà khắc, an ninh ngoài hàng rào và bảo đảm cho người lao động yên tâm sản xuất.

Tại công trường Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1, do đảm nhiệm vai trò nhà thầu phụ nên việc giải phóng mặt bằng không ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thi công. Tuy nhiên, tại Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, với vai trò là Tổng thầu EPC của dự án nên tiến độ chịu nhiều ảnh hưởng hơn. Mặc dù đã gần đến thời điểm đốt lò tổ máy 1 vào cuối tháng 9, nhưng hai hạng mục lớn là bãi thải xỉ và tuyến thải xỉ (ít ra cần 18 tháng cho thời đoạn thi công) vẫn chưa hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng. Tình hình thời tiết ở hai công trình đều không thuận lợi. Mưa nắng thất thường, mùa mưa thường kéo dài, chẳng hạn như tại Vũng Áng có thời khắc mưa liền hơn một tháng, đã gây khó khăn cho việc thi công đảm bảo tiến độ. Hơn nữa, do đều nằm xa khu dân cư nên nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sinh sản đều rất khó khăn. Chỉ tính riêng Lilama, lúc cao điểm tại Vũng Áng có 4.500 người, tại Mông Dương là 1.200 người. Tập hợp đông người như thế nên việc bảo đảm an toàn, đảm bảo điều kiện sống, làm việc, sức khỏe cho người lao động không phải đơn giản. Đã thế tổn phí sinh hoạt lại khá cao vì vậy có nhiều trường hợp người cần lao chuyển việc, thậm chí chuyển sang làm cho Tổng thầu Hyundai như ở Nhiệt điện Mông Dương 1.

Một trong những điều đáng tiếc nhất là khả năng nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị của DN trong nước không được phát huy tối đa. Tại Nhiệt điện Vũng Áng 1, tỷ lệ nội địa hóa công tác chế tạo thiết bị là hơn 51%. Ngoại trừ các thiết bị chính như: bao hơi, tua-bin, máy phát... Là những thiết bị trong nước chưa thể sinh sản, đến nay Lilama đã hoàn tất chế tác và lắp đặt 46 nghìn tấn trên tổng số khoảng 90 nghìn tấn thiết bị, trong đó có cả những loại thiết bị phi tiêu chuẩn. Trong khi đó, tỷ lệ nội địa hóa tại Nhiệt điện Mông Dương 1 chỉ đạt khoảng 30%. Kỹ sư Nguyễn Xuân Giang, Chỉ huy trưởng Lilama 10 tại Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 san sẻ: Kết cấu thép nhà tua-bin lò hơi của Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 đều phải nhập theo yêu cầu hợp đồng, trong khi ở Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Lilama đã làm rất tốt. Vậy chăng, Nhà nước nên có chính sách ưu tiên các DN trong nước đủ khả năng chế tạo, lắp đặt thiết bị mà không phân biệt nguồn vốn đầu tư. Như bây chừ, vốn của nước ngoài nên họ có quyền chọn nhà thầu cung cần thiết bị, cho vay tiền, mang thiết bị sang rồi lại đưa tiền về thì thật phung phí. Tuy không so sánh tỷ lệ nội địa hóa tại hai dự án dùng hai nguồn vốn khác nhau (vốn ngân sách và vốn nước ngoài), nhưng trong bối cảnh tiêu thụ sản phẩm trong nước ngày một khó khăn, không ai không day dứt khi những thiết bị nhà thầu trong nước có thể chế tác, lắp đặt lại không được cáng đáng.

Ưu tiên nguồn lực trong nước

Trước nhất, cần giải quyết dứt điểm các "điểm nghẽn" liên can đến tài chính và các khoản nợ lớn. Tổng công ty Sông Đà đang gặp khó khăn ở Nhà máy Xi-măng Hạ Long. Rưa rứa, đối với Lilama là Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí... Các DN xây lắp đều cho rằng, tình hình thực hiện nhiệm vụ sinh sản, kinh doanh giờ đang rất khó khăn, đề nghị Bộ Xây dựng có những giải pháp tháo gỡ. Các khoản nợ khó đòi từ các công ty khá lớn, chả hạn như tại Lilama khoảng 700 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Đà con số còn lớn hơn, nên rất cần có cơ chế thu hồi nợ phù hợp và những chính sách giãn, hoãn nợ, giúp ổn định sản xuất, kinh doanh. Tại một số công trình trọng tâm như Thủy điện Lai Châu, Tổng thầu EPC (Tổng công ty Sông Đà) kiến nghị chủ đầu tư cần bảo đảm nguồn vốn thanh toán cho nhà thầu, nghiệm thu, tính sổ kịp thời; cung cấp thiết kế đúng tiến độ: Luôn đảm bảo lực lượng cán bộ kỹ thuật tại hiện trường, phối hợp cùng nhà thầu nghiệm thu, giám sát thi công xây lắp, đảm bảo chất lượng và tiến độ công trình. Ngoại giả, đại diện lãnh đạo Tổng công ty Sông Đà kiến nghị Bộ Xây dựng kết hợp với các bộ, ngành có chính sách tháo gỡ khó khăn về vốn, cơ chế cho các dự án điện tại Lào. Theo họ, các dự án tại Lào đang cùng chung cơ chế với các dự án trong nước là không hợp lý.

Giám đốc điều hành Lilama Lê Văn Tuấn cho rằng, khó khăn lớn nhất bây giờ là nguồn vốn, tỷ giá tính sổ và phí nảy sinh trong quá trình xây dựng. Thông thường xây dựng một dự án nhiệt điện phải mất khoảng 4 đến 5 năm, thành ra không tránh khỏi những ảnh hưởng từ tỷ giá, lãi suất... Trong khi đó, phần dự toán đề phòng các dự án sử dụng vốn ngân sách rất thấp (chỉ khoảng 5%) dẫn đến phải điều chỉnh dự toán tổng thầu. Hơn nữa vấn đề hệ trọng đến tỷ giá thanh toán giao kèo Tổng thầu EPC các dự án sử dụng ngân sách Nhà nước phải đợi chỉ đạo từ Chính phủ nên nhiều lúc dòng tiền bị chậm trễ, ảnh hưởng tiến độ thi công. Thực tế tại các công trường, phần việc nảy là chẳng thể tránh khỏi, trong khi để thanh quyết toán được phần việc này cũng mất rất nhiều thời gian và công sức. Chính thành ra nhiều nhà thầu năng lực tài chính eo hẹp không đảm bảo được tiến độ đã ảnh hưởng đến tiến độ chung của toàn dự án. Bởi lẽ đó, nhiều công ty thành viên của Lilama thích làm thầu phụ hơn tổng thầu vì được giải ngân nhanh chóng và tiện lợi.

Mặc dù Chính phủ đã có Chỉ thị ưu tiên dùng các nguồn lực của nhà thầu trong nước, nhất là các dự án sử dụng vốn ngân sách, tuy nhiên trên thực tại nguồn vốn này cũng đang gặp khó khăn. Trong khi đó, các dự án dùng nguồn vốn khác lại vướng về Luật Đấu thầu và thường thì các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi, cho dù xét về năng lực chuyên môn, kể cả làm Tổng thầu EPC đều đạt, thậm chí vượt các tiêu chí xét thầu tại các dự án. Hơn nữa, năng lực tài chính của nhiều nhà thầu còn thấp, đơn cử như Lilama vốn điều lệ chỉ khoảng 640 tỷ đồng, bởi thế chỉ dự hạn chế vào các dự án, gây phung phí nguồn lực chất xám. Chính bởi thế, có thể nói, vấn đề cần tháo gỡ nhất hiện là nguồn vốn và những chính sách ưu đãi cho các nhà thầu trong nước. Đổi mới công tác đấu thầu theo hướng mở rộng, ưu tiên sử dụng nguồn lực trong nước không phụ thuộc vào nguồn vốn. Song song có cơ chế thích hợp, linh hoạt nhằm tháo gỡ khó khăn cho từng dự án trung tâm, nhất là những phần việc phát sinh trong quá trình thi công trên công trình.

Bài và ảnh:LÊ XUÂN THỦY


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.