Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Con đường chinh phục thế giới của các biểu trưng Emoji

Hiện thời chúng ta đã quen với các biểu tượng tròn tròn vàng vàng, hay còn gọi là emoji , vì nó được dùng hết sức rộng rãi trong các cuộc hội thoại trên mạng. Nó giúp cho cuộc luận bàn của chúng ta vui vẻ hơn, sinh động hơn. Đây cũng là phương tiện giúp tả được phần nào cảm xúc của người viết, thứ không đơn giản chỉ có thể bộc lộ qua những dòng chữ trên màn hình. Vậy sự ra đời của Emoji ra sao và làm thế nào mà những biểu trưng này có thể trở thành phổ biến như ngày bữa nay? Mời các bạn cùng theo dõi câu chuyện được kể bởi chính cha đẻ của Emoji.

Trước tiên chúng ta hãy nói một chút về chữ emoji. Chữ này có tức là "hình tượng" và nó được phối hợp từ chữ "hình ảnh" (e) và "chữ" (moji). Mỗi biểu tượng emoji có thể được xem là một "kí tự". So với emoticon , Emoji khác ở chỗ nó là nhữngbiểu trưng, tỉ dụ như. Ngoài những khuân mặt như trên, emoji còn có rất nhiều hình ảnh khác, chả hạn như, một số còn mang đậm văn hóa Nhật như biểu trưng người cúi đầu chào, một người đeo khẩu trang, mì ramen, sushi, ca ri Nhật... Những nhà mạng lớn ở Nhật như NTT DoCoMo , au, Softbank đều có một bộ emoji của riêng mình. Mãi đến gần đây mới bắt đầu có những động thái chuẩn hóa.

Trong khi đó, theo Wikipedia, emoticon là những "khuôn mặt" được cấu tạo từ cáckí tự trên bàn phím, tỉ dụ như :-( :"> :-? ;-) :-w. Khi gõ lên một số dịch vụ, vận dụng, trang web, diễn đàn online (như Tinh tế chả hạn), các kí tự này sẽ được thay thế bởi hình ảnh ứng và người ta cũng gọi nói là emoticon.. Trên những hệ điều hành được hỗ trợ, bạn có thể dễ dàng copy, cắt, dán các emoji vào khung soạn thảo văn bản bởi chúng là những biểu tượng và OS đối xử với nó như bao chữ cái khác. Còn những hình ảnh như icon mặt cười của Tinhte, của Yahoo, Facebook thì khi bạn copy vào khung soạn thảo, chúng sẽ mất đi hoặc thậm chí là không cho paste.

Mặc dầu xuất hiện trước hết ở Nhật, hiện giờ một số emoji đã được tích hợp vào bảng mã Unicode, nhờ thế mà chúng ta có thể dùng được emoji ở nhiều nơi. Các máy Windows Phone 7 và iPhone cho phép người dùng truy cập vào những emoji mà không cần đến các nhà mạng Nhật Bản. Emoji cũng đã xuất hiện torng Gmail và nhiều trang web cũng như dịch vụ email khác. Nhiều vận dụng SMS trên Android cũng được tích hợp hoặc có plugin để dùng Emoji. OS X 10.7 trở đi cũng đã hỗ trộ Emoji.

Sự ra đời của Emoji


Năm 1995, máy nhận tin nhắn (pager, có người gọi là máy nhắn nhe) trở thành cơn sốt trong giới trẻ Nhật Bản. Nếu bạn chưa biết máy nhắn tin là thì đó là một tổ hợp thiết bị - dịch vụ dùng để giao thông với nhau trước khi điện thoại di động trở thành phổ quát. Máy nhắn thực chất cũng đã từng có mặt ở Việt Nam và cũng được khá nhiều người dùng trong những năm cuối thập niên 90. Khi đăng kí sử dụng chiếc máy này, bạn sẽ được cấp một số độc nhất vô nhị, có tác dụng giống số điện thoại. Lúc cần nhắn gì cho bạn, người nhà hay bạn bè sẽ gọi lên một tổng đài, nói với tổng đài viên nội dung cần nhắn và họ sẽ chuyển thông điệp đó đến thiết bị nhỏ nhỏ mà bạn đang cầm trong tay. Tức thị thay vì bạn nhắn SMS trực tiếp thì hiện giờ chúng ta phải gián tiếp chuẩn y một cô tổng đài dễ thương nào đó. Có một số máy pager hai chiều, tức bạn cũng có thể nhắn lại, nhưng không phổ quát lắm.

Chà, nãy giờ nói hơi nhiều về máy nhắn nhe, giờ thì quay trở lại vấn đề chính nào. Khi máy nhắn trở nên phổ thông tại Nhật, nhà mạng NTT Docomo quyết định thêm biểu trưng trái tim vào dịch vụ của mình để giúp các bạn học trò trung học trình bày được tình cảm (và cả sự đáng yêu) ưng chuẩn hàng triệu tin nhắn được gửi đi mỗi ngày. Docomo đã rất thành công và thị phần máy nhắn của hãng lên đến 40% ở Nhật. Lúc đó, Docomo cung cấp cho khách hàng của mình chiếc máy nhận tin nhắn của Pocket Bell.

Khi phiên bản Pocket Bell mới ra đời, nó không còn hỗ trợ hiển thị biểu tượng trái tim nữa mà thay thế bằng những thứ thân thiện với việc kinh dinh, thí dụ như chữ Kanji, kí tự Latin alphabet. Chính nên mà giới trẻ chóng vánh rời bỏ dịch vụ của Docomo và tìm đến sản phẩm của đối thủ Tokyo Telemessage. Vào thời điểm mà Docomo nhận ra rằng họ đã đánh giá sai về nhu cầu đối với những máy nhắn tin "business", nhà mạng này rất cần một thứ gì đó đủ mạnh để kéo những khách hàng mấu chốt của mình quay trở lại. Và thứ đó chính là emoji.

Shigetaka Kurita là người đã tạo ra emoji, và trong thời kì anh làm việc tạo Docomo, anh đã trực hấp thu thấy sự thay đổi về nhu cầu củahttp://www.Idee.Vnngười dùng các máy nhắn tin. Lúc đó anh đang là một thành viên thuộc nhóm i-mode - dự án được tạo ra để thiết lập một nền móng Internet di động toàn cầu, trong đó bao gồm những thứ như dự báo thời tiết, đọc tin tức, xem email... I-mode sau đó trở thành phổ biến và nó đã giúp người Nhật dùng được những thứ mà phải 10 năm sau thế giới mới được tiếp cận.

I-MODE


I-mode là một dịch vụ Internet di động tích hợp được tạo ra bởi NTT Docomo. Được triển khai vào tháng 2 năm 1999, i-mode cung cấp một bộ các dịch vụ được biết rằng tiếng nói Compact HTML, trong đó có những dịch vụ dùng để dự báo thời tiết, đặt chỗ ở các dịch vụ tiêu khiển và du lịch, xem tin cậy, duyệt email. Ở những buổi đầu, i-mode có thể xem là một "khu vườn kín" bởi các công ty cung cấp nội dung đòi hỏi Docomo phải đưa website của họ đến với khác hàng thông qua cổng thông báo có tính chọn lựa cực cao của nhà mạng. Nhưng không giống như App Store hay Google Play, các nhà cung cấp nội dung cho i-mode thu đến 91% doanh thu từ các dịch vụ mà người dùng đăng kí với giá 100 yên đến 300 yên mỗi tháng (khoảng 0,85$ đến 2,50$ tính theo tiền tệ năm 2000). Và mặc dầu Docomo kiểm soát cổng trực tuyến của mình rất chặt, người dùng vẫn có thể truy cập vào trang web bên ngoài bằng đường link gửi trong email hay nhúng trong mã QR (cũng giống như việc chúng ta cài app bằng file APK vào Android vậy).

I-mode ngay thức thì trở thành một cú hit ở Nhật, và trong chỉ hai năm Docomo đã có 20 triệu người dùng đăng kí dùng dịch vụ này, đến năm 2004 thì tăng thành 40 triệu. Một thời gian ngắn sau khi i-mode trình làng, những nhà mạng đối thủ như J-Phone (giờ là Softbank) và DDI Cellular Group (giờ là AU KDDI) cũng nhanh chóng triển khai dịch vụ J-Sky và EZweb dựa trên giao thức WAP, nhưng cả hai đều không thành công như sản phẩm của Docomo.

Docomo bản chất cũng đã thử cung cấp bản quyền i-mode sang các nước Châu Âu và Châu Á trong những năm 2000, tuy nhiên đến nay thì dịch vụ này đã hoàn toàn biến mất ở những nước này. Chỉ có ở Nhật Bản, i-mode hiện vẫn duy trì số lượng người dùng là 35 triệu, trongthiet ke du an quy hoachđó gần phân nửa là những người đã trên 50 tuổi.

Tuy nhiên, ở thời điểm dự án mới bắt đầu, nhóm i-mode cần phải có được những ý tưởng tốt, do đó họ muốn xem những áp dụng về mobile Internet mà các nước khác đang làm. Kurita cùng nhóm của mình đáp chuyến bay đến San Francisco vào năm 1998 để xem dịch vụ Pocket Net của AT&T. Đây là dịch vụ trước nhất trên thế giới có khả năng cung cấp những thứ như email, dự báo thời tiết duyệt y một mạng di động. Nó dùng dịch vụ gửi dữ liệu số dạng gói (CDPD) của AT&T và có thể đạt tốc độ truyền tải là 19Kbps (để dễ so sánh thì mạng 4G LTE của AT&T hiện có tốc độ 9,6Mbps, nhanh hơn 500 lần).

Kurita nói: "Ở thời khắc đó, cấu hình của các thiết bị cầm tay rất thấp, do đó nó chẳng thể hiển thị được một số nội dung đa công cụ, như hình ảnh chả hạn". Pocket Net có thể cung cấp tin tưởng về thời tiết, nhưng những hiện tượng như "trời nhiều mây" hay "trời nắng" chỉ được trình diễn.# Bằng chữ mà thôi. Việc thiếu đi một cách hiển thị trực giác khiến dịch vụ này khó dùng hơn ý tưởng ban sơ, và Kurita nhận ra rằng trải nghiệm của các khách hàng ở AT&T có thể tốt hơn bằng cách thêm vào một số kí tự để hiển thị những thông báo tùy theo văn cảnh.

Cũng trong khoảng thời gian đó (thật ra là trước đó 3 năm), Windows 95 chính thức được Microsoft ra mắt, và email cũng đang trên đà phát triển tại Nhật cũng giống như thiên hướng của máy nhắn. Tuy nhiên, Kurita nói rằng người ta khá "chật vật" khi phải làm quen với cách thức giao dịch mới này. Trong văn hóa của Nhật, những lá thư cá nhân rất dài, trong đó chứ đầy những lời chúc nhau cũng như những lời nói đầy cung kính để biểu đạt lòng tốt của người gửi thư đối với người nhận. Trong khi đó, email lại ngắn và có bản chất "đời thường" hơn nên nó khiến người ta không thoải mái khi dùng. "Nếu có ai đó nói Wakarimashita (có tức là tôi hiểu rồi), bạn sẽ không biết được rằng người ta hiểu một cách vui vẻ hay "ừ đấy, tôi hiểu rồi", tức mang hơi hướng tiêu cực", Kurita nói. "Bạn không biết được những gì đang xuất hiện trong đầu người viết."

Việc hội thoại trực tiếp với nhau, và ngay cả trên điện thoại, cho phép bạn đánh giá được thể tâm lý của người kia như thế nào nhờ vào giọng nói, và rưa rứa như thế, là thư dài giúp người ta đãi đằng được những thông tin ngữ cảnh. Chính sự thiếu hụt về khả năng này đã khiến cho việc giao du trong thời đại kĩ thuật số trở nên khó khăn, người ta cảm thấy xa vắng nhau hơn, trong khi mục tiêu của việc giao thiệp kĩ thuật số là mang thế giới lại gần nhau.

Kurita chia sẻ: "Và đó là thời điểm mà chúng tôi nghĩ rằng, nếu có những thứ như emoji, chúng tôi có thể vẽ ra được những khuôn mặt. Chúng tôi đã có kinh nghiệm với tượng trưng trái tim rồi, do đó chúng tôi nghĩ điều đó (khuôn mặt emoji) là điểu hoàn toàn có thể làm được". Bản tính vào thời khắc đó người ta cũng bắt đầu biết đến kaomoji, tức thị cách sử dụng những kí tự ASCII để biểu lộ cảm xúc, dạng như (^_^) (*´▽`*)(≧▽≦)(っ^_^)っ (つ゚⊿゚)つ. Tuy nhiên, theo Kurita, giải pháp này thực thụ rất khó bởi người ta phải nhập rất nhiều kí tự từ bàn phím điện thoại (và không có bàn phím QWERTY đâu nhé), thế nên anh muốn tìm một thứ đơn giản hơn.

Thiết kế nên emoji

Bản thân Kurita không phải là một nhà thiết kế (anh chuyên về kinh tế hơn), kế hoạch của người nhân viên trẻ tuổi này là vẽ ra một số ý tưởng để kêu gọi sự giúp đỡ từ những nhà sinh sản lớn như Sharp, Panasonic, Fujitsu - những công ty có kinh nghiệm về thiết kế. Tuy nhiên, anh đã sửng sốt khi biết rằng những công ty này không san sẻ chung tâm huyết của anh vào thời điểm đó. "Họ kiểu như 'làm ơn đi, anh sẽ là người thiết kế chúng'. Họ có rất nhiều lý do, ví dụ như đây chỉ là những thiết bị đầy tiên hỗ trợ i-mode, họ không có nhiều người lực, đại loại như thế". Khi phải đối mặt với quá ít chọn lựa, Kurita lấy vài tờ giấy, một cây bút chì, tập hợp nhóm của anh lại và họ bắt tay vào làm việc, ngay cả khi họ chưa biết mình sẽ phải làm gì. Kurita nhắm đến việc tạo ra một bộ 176 biểu tượng kích tấc 12 x 12 pixel có khả năng thể hiện hết trạng thái xúc cảm của hết thảy nhân loại.


Để có cảm hứng, Kurita nhìn vào nhiều nguyên tố khác nhau trong tuổi thơ của chính mình, trong đó có những thứ như truyện tranh manga hay chữ kanji. "Trong thế giới truyện tranh Nhật Bản, có rất nhiều tượng trưng khác nhau. Người ta vẽ ra xúc cảm của con người bằng những giọt mồ hôi, tượng trưng bóng đèn. Do đó có nhiều tình huống mà tôi đã dựa vào đó như một lời gợi ý để xếp đặt mọi thứ lại". Từ chữ kanji, anh cũng tìm được cách thể hiện cảm xúc chỉ bằng một kí tự duy nhất.

Để hiển thị những biểu trưng này, Docomo quyết định sử dụng một vùng chưa dùng tới trong bảng mã Shift JIS của Nhật. Cứ mỗi mã 2 byte sẽ tương ứng với một hình ảnh và vơ đều sẽ được tích hợp vào những điện thoại của Docomo giốngthiết kế dự án kiến trúcnhư bao kí tự khác. Người dùng sau đó có thể thêm những emoji vào thư của mình bằng cách chọn nó trong một giao diện bên trong ứng dụng Email. Docomo không chỉ nhắm đến việc sử dụng emoji trong thư điện tử mà họ còn muốn cho các nhà cung cấp nội dung truy cập vào kho biểu trưng và hiển thị nó lên các trang web i-mode. Zagat, Pia là hai trong số những nhà cung cấp nội dung trước nhất tham gia vào chương trình thể nghiệm việc dùng emoji, do đó logo của họ có trong bộ mã của Softbank (nhưng khoảng một hai năm sau thì chúng đã bị xóa đi khi hết giao kèo).

Với một tấm lưới 12 x 12, Kurita phải tận dụng tối đa không gian trong các bản vẽ của mình, do đó những kí tự mà anh vẽ ra bừa bãi đơn giản. Thí dụ, khuôn mặt cười đầu tiên chỉ có một cái miệng hình chữ nhật và hai chữ V úp trái lại để diễn ra hai con mắt. Thực chất, những emoji nguyên bản trông rất khác so với những khuôn mặt màu vàng bây chừ.

Khi được hỏi về lời nhận xét của Giáo sư Scott Fahlman, người nổi tiếng vì tạo ra emoticon, rằng emoji là ngớ ngẩn, Kurita nhấn "Đúng, chúng quả thật hơi ngớ ngẩn một chút". Nếu như nhà mạng au và các đối thủ cố gắn chuyển emoji thành các hình ảnh (image) thì Kurita lại xem emoji như là các tượng trưng (symbol). Vì biểu trưng thì gần giống với các chữ cái nên nó sẽ không bị tách biệt hoàn toàn khi chèn vào một câu chữ, và chúng ta cũng có thể dễ dàng chỉnh kích tấc của nó như những symbol khác.

Vấn đề thiếu đồng nhất của emoji

Khi anh đã hoàn thành việc thiết kế bằng tay, Kurita nghĩ rằng những nhà sinh sản đã chối từ khéo anh trước đây sẽ thêm vào các nét hoàn thiện cuối cùng để tác phẩm trở nên đẹp hơn, trông chuyên nghiệp hơn. "Tuy nhiên ai cũng lấy đúng những gì chúng tôi có và đưa vào áp dụng y như thế", anh nói và cười. "Thế nhưng, điểm tốt ở đây đó là emoji của mọi người đều hoàn toàn giống nhau. Nếu mỗi nhà sản xuất lại thêm một tí gì đó dị biệt vào những biểu tượng này, emoji có thể đã trở thành rối tung và không đồng nhất, ngay cả trong nội bộ Docomo".


Dù rằng vậy, sự hợp nhất đó cũng không kéo dài lâu. Docomo chẳng thể đăng kí bản quyền bộ emoji của mình (người ta nói với DoCoMo rằng "đây chỉ là những khối 12 x 12"), điều đó có tức thị những đối thủ như Au và J-Phone (sau này trở nên SoftBank) cũng có thể dùng emoji của Docomo. Thế nhưng hai nhà mạng đối thủ này lại thiết kế các biểu tượng của mình, họ thêm vào nhiều hình ảnh hơn, các hình ảnh thì trở thành chi tiết hơn, thậm chí một số còn có hiệu ứng chuyển động, để giữ chân khách hàng của mình.

Từ một thứ đáng lý ra phải đồng nhất, emoji trở nên một tập kết những tượng trưng khác nhau ngay cả khi chúng cùng biểu đạt một nội dung, và emoji gửi từ nhà mạng này sang mạng khác thì chẳng thể đọc được. Mãi đến năm 2005 thì ba nhà mạng này mới chịu "dịch" emoji theo đúng với bộ emoji do mình sở hữu. Hồi năm ngoái, trong núm chuẩn hóa emoji, nhà mạng Au quyết định tái thiết kế lại bộ emoji của mình cho giống với bộ nguyên gốc của Docomo, và vậy đó nhận được sự giúp sức của Kurita. Mặc dù vậy, giờ vẫn còn có rất nhiều bộ tượng trưng tùy theo nhà mạng và điện thoại của người dùng. Bây chừ bộ sưu tập emoji của Docomo có 250 biểu trưng, không tính những cái có chuyển động. Trong khi một số thiết bị lại có khả năng hiển thị đến 800 emoji.


Trong lúc thảo luận về việc chuẩn hóa, phóng viên của trang The Verge hỏi Kurita rằng anh cảm thấy như thế nào khi biết rằng emoji giờ đây đã được bổ sung vào bảng mã Unicode, bộ mã chuẩn của toàn ngành công nghiệp máy tính và được hiển thị trên hồ hết những máy tính bây chừ. Kurita giảng giải rằng mặc dầu ngày nay anh đã nghỉ làm ở Docomo, anh vẫn rất vui vì cột mốc này, nhưng bị thất vọng bởi vì việc áp dụng emoji bị phân mảnh nhiều quá. "Au cũng đã giả bộ emoji của họ giống với Docomo. Và mọi chuyện lẽ ra thật tuyệt nếu như họ (Unicode) cũng dùng chung chuẩn đó".

Hiện những nhà mạng của Nhật vẫn chưa chuẩn hóa được một bộ tượng trưng chung nhưng điều đó không ngăn được emoji vươn ra tầm thế giới. Apple đã tương trợ một biến thể của bộ emoji do SoftBank thiết kế trong bản cập nhật iOS 2.2, ít ra là ở Nhật. Khi iOS 5 xuất hiện vào cuối năm 2011, Apple đã chính thức nhúng emoji vào tất tật các máy iOS của mình. Lúc người dùng biết được cách kích hoạt emoji, những tượng trưng dại như khuân mặt thè lưỡi, khuân mặt lính dần xuất hiện nhiều hơn trên Twitter, Instagram, Tumblr. Ngày nay, chúng ta có thể thấy được những biểu trưng này ở khắp mọi nơi, từ những tin nhắn thân tình cho đến các dự án có liên quan đến emoji. Yahoo, Google Talk, Skype có những biểu trưng của riêng mình, nhưng chúng cũng trông giống với emoji và cũng dựa trên cùng một ý tưởng như thế.

Phóng viên The Verge tiết tục hỏi Kurita rằng anh nghĩ như thế nào khi thấy những đứa con của mình được phát triển trên toàn cầu, anh đáp: "Tôi rất hạnh phúc, nhưng thật lòng mà nói, đây không phải là thứ mà tôi có thể thật sự hiểu rõ. Nó rộng lớn quá, anh biết đấy". Anh tiếp kiến nói rằng anh rất tò mò về cách mà những người thuộc các nền văn hóa khác nhau sử dụng cùng một biểu tượng. "Tôi thật sự muốn biết rằng chúng được sử dụng giống nhau ở mức độ nào, và chúng được bản địa hóa ở mức nào. Tôi nghĩ rằng emoji trái tim được dùng bởi nhiều người với cùng một mục đích, nhưng rồi sẽ có những thứ mà chỉ có người Nhật mới hiểu, hoặc chỉ người Mỹ mới hiểu... Thật tuyệt vời giả dụ chúng ta có thể so sánh chuyện đó, để rồi mọi người có thể bắt đầu sử dụng emoji theo một cách giống nhau". Kurita mong muốn emoji có thể trở nên một thứ "ngôn ngữ cơ thể" cho thế giới web.


Khi ra về, phóng viên The Verge hỏi Kurita một câu rút cục: "Anh nghĩ sao khi một cô gái gửi cho anh tượng trưng trái tim trong tin nhắn?" Kurati đáp: "Tôi không biết là cô ấy có thích tôi hay không", anh cười, "nhưng tôi chắc chắn nghĩ rằng đây là một điều tốt đẹp. Tôi sẽ không nghĩ đó là một chuyện xấu".

Nguồn: The Verge


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.